Tuần vừa rồi tôi đọc Thành phố và những bức tường bất định của Haruki Murakami, nơi mình và cái bóng của mình phân tách, ở một thành phố mà mọi người bỏ cái bóng của mình lại, nơi đó không có thời gian. Mình và cái bóng đôi khi cũng là một, hoặc mình là cái bóng và cái bóng cũng là mình. Điều đó đặt ra một câu hỏi: mình hay là cái bóng là cái tôi rốt ráo hơn? Ở nơi đó, ông Koyasu có hai lần chết: một lần là chết trần tục, và một lần tinh hồn ông đi đến một vùng thinh không, cái gì đó như Niết bàn, như Khải huyền, và… như hố đen?
Tôi nghĩ những gì chúng ta đọc, chúng ta nghe, chúng ta xem một phần nào đó bồi đắp cho khả năng giải thích những gì ta quan sát được. Tuần vừa rồi, sau khi đã nộp đề cương nghiên cứu tiến sĩ xong xuôi, tôi có chút thời gian dư dả để chiều chuộng những sở thích cá nhân. Tôi đã xem một bộ phim tài liệu trên Netflix về Stephen Hawking và các cộng sự thiên tài từ Cambridge, MIT…, về hố đen, về tóc mềm, về đường sự kiện chân trời, về điểm kỳ dị. Có tên Hố đen: Giới hạn những hiểu biết của chúng ta. Nhỉ? Đâu là giới hạn hiểu biết của chúng ta? Tôi đặc biệt yêu thích khoa học vũ trụ. Khi được hỏi nếu không làm nghề nghiệp như bây giờ thì tôi sẽ làm gì, tôi đã không ngần ngại mà trả lời: tôi muốn trở thành một nhà thiên văn học. Tôi cũng từng sử dụng các khái niệm như giới hạn Roche, sao lùn, hạt hạ nguyên tử trong những bài viết của mình.
Không chỉ Haruki Murakami và Stephen King, tuần này là một trong những tuần đọc năng suất nhất của tôi trong vài năm trở lại đây. Có lẽ tôi đang giữ cái đà đọc paper để làm literature review chăng? Một trong số những cuốn tôi đọc trong tuần này là Nghệ thuật tư duy rành mạch của Rolf Dobelli – một cuốn sách tôi được đồng nghiệp cũ giới thiệu cách đây 8 năm, tôi mua luôn nhưng chưa từng đọc. Nó nằm dài trên kệ sách từng ấy năm đợi đến lượt.
Cuốn sách lật lại mọi cách tư duy thông thường, xem xét những sai lầm của nó. Mặc dù còn nhiều điều cần phải phản biện với lập luận của tác giả, đây vẫn là một cuốn sách mạch lạc, rõ ràng, về cơ bản là những tư duy từ phân tích định lượng về những thiên kiến nhận thức. Trong cuốn sách này có một chương tôi đặc biệt ấn tượng về “kiến thức tài xế”, có tên “Đừng quá tin vào phát thanh viên” (trớ trêu thay tôi là một phát thanh viên – haha). Chương này đề xuất hai dạng kiến thức: dạng thứ nhất là kiến thức thực sự – chúng ta thấy nó ở những người đã bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức để hiểu một đề tài; dạng thứ hai là kiến thức tài xế – những kiến thức mà người ta học chỉ để thuyết trình – xuất phát từ câu chuyện Max Planck để người tài xế của mình thuyết trình về cơ học lượng tử mới sau khi ông nhận giải Nobel Vật lý năm 1918.
Để đề phòng kiến thức tài xế, Warren Buffett đã đưa ra một khái niệm tuyệt vời gọi là “vòng tròn hiểu biết”. Bên trong vòng tròn là những gì bạn hiểu rất rõ; những gì bên ngoài thì bạn chỉ hiểu lơ mơ. Bạn phải giữ vững vị trí của mình trong vòng tròn hiểu biết. Bạn phải biết mình hiểu được những gì và không hiểu được những gì. Vòng tròn của bạn lớn đến đâu không phải là điều tối quan trọng; điều tối quan trọng là bạn phải biết chu vi của vòng tròn đó. Vậy làm thế nào để nhận biết sự khác biệt? Có một dấu hiệu rõ ràng: những chuyên gia thực sự biết được giới hạn của điều họ biết và những gì họ không biết. Nếu họ nhận thấy mình đã rơi ra khỏi vòng tròn hiểu biết bản thân, họ sẽ im lặng hoặc nói “tôi không biết” một cách thản nhiên, thậm chí còn có chút kiêu hãnh. Còn những gà tài xế sẽ nói cho chúng ta nghe đủ thứ ngoại trừ câu đó. Là một phát thanh viên và nhà nghiên cứu, thực sự những lập luận này đã khuấy động trong tôi rất nhiều thứ.
Vậy những bạn có đồng ý rằng những thứ mình không biết có một sức hấp dẫn lạ kỳ không? Một trong những thành phần quan trọng nhất trong hồ sơ ứng tuyển tiến sĩ là thư động lực. Tôi mất hai tuần để chau chuốt nó, nói rằng mình đã khổ sở thế nào, mình vượt qua ra sao, mình có những thành tựu gì. Nhưng 30 phút trước lúc đóng đơn, tôi tự hỏi: động lực thực sự của mình là gì? Và thế là tôi đã bổ sung đoạn sau:
“My past achievements, while validating my perseverance, have primarily illuminated the vastness of what I do not yet know. The real drive now comes from a profound sense of intellectual incompleteness – a clear-eyed understanding of the theoretical depth and methodological rigor I must still acquire to truly answer the complex questions that captivate me. It is this awareness of my own ‘unfinishedness,’ not just the memory of past struggles, that now fuels my journey.”
Và trong một cuốn sách nữa tôi đọc chỉ trong hơn một ngày trong tuần này – Lý do để sống tiếp, Matt Haig viết: “Chúng ta chẳng hề về gần đích của khoa học. Hầu hết những gì chúng ta biết sẽ bị bác bỏ hay đánh giá lại trong tương lai. Đó là cách khoa học làm việc: không phải bằng niềm tin mù quáng, mà liên tục nghi ngờ.” Mà như tôi hay nói, nhiều khi tôi muốn phản biện chính mình trong quá khứ.
Thế tại sao tôi lại muốn học tiến sĩ? Vài người hỏi: học xong lương cao hơn không? Nhiều người hỏi: có PhD rồi thì muốn làm đâu chả được nhỉ? Họ khẳng định. Nhưng tôi nghĩ thế này: những gì người làm khoa học làm là trả lời những câu hỏi còn khiến mình nghi ngờ và giữ thái độ tò mò với tri thức. Người học tiến sĩ không nên và không cần nghĩ quá nhiều về số tiền họ có thể kiếm được hay danh tiếng khi được gọi là Dr. Tất nhiên, những điều đó có thể đến như một hệ quả tất yếu, nhưng đừng biến nó thành mục đích lớn nhất hay, tệ hơn, là duy nhất.
Tôi viết những dòng này khi đang nghỉ ngơi sau khi đọc luận án tiến sĩ toán ứng dụng và vật lý Large Gauge Transformations and Black Hole Entropy của Sasha Haco. Tại sao đến bây giờ tôi mới nhận ra khoa học kiều diễm và hấp dẫn đến vậy chứ? Và việc viết cũng đem lại quá nhiều lợi ích cho trí não và tâm trạng. Chiều chủ nhật, ngồi cà phê và tìm sự liên kết giữa những suy nghĩ vụn vặt trong tuần, tôi nghĩ không có gì lành mạnh hơn thế. Tôi vừa bật ra thứ gì đó trong đầu nhưng quên béng mất, nên tôi sẽ dừng bút tại đây như một sự chấp nhận về “sự chưa hoàn thiện” như trong thư động lực của tôi.
Lại thêm một lý do nữa để duy trì việc viết: viết, không thì quên mất mình đã từng nghĩ gì!

